AFF Suzuki Cup 2018 Tin tức, lịch thi đấu, BXH được cập nhật liên tục hàng ngày

logo
quang cao
Thể Thao

Tin hot

Hiển thị các bài đăng có nhãn sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Ngoài ra, trong thực tế thì nhiều người vợ trong khi thai nghén mệt mỏi, thay đổi hormon khiến nhu cầu tình dục cũng giảm. Ngược lại, một số người lại tăng nhu cầu này hơn so với bình thường… Vậy có cần phải kiêng "yêu" trong thời gian mang thai và "yêu" như thế nào để an toàn cho cả mẹ và bé?
"Yêu" trong thai kỳ - nên hay không?
Ngoài 30 tuổi, chị N.T.H mới mang thai đứa con đầu lòng, vợ chồng chị quyết định… "nhịn yêu" trong suốt quá trình mang thai và sau khi sinh tới… 3 tháng. Vì hiếm muộn nên vợ chồng chị H. rất lo sợ khi quan hệ chẳng may có chuyện gì đến với con. Vừa ôm con nựng nịu, chị H. cười chia sẻ: "Khi có thai và sinh con mình rất mệt mỏi, nên có "kiêng" thì cũng không sao. Nghĩ lại thấy thương chồng, nhưng cũng may vì con nên anh ấy chịu đựng được". 
Ngược lại với trường hợp trên, chị T.M.T. lại có xu hướng tăng ham muốn sau 3 tháng đầu thai kỳ, nhưng chồng chị lại vẫn lo lắng nên rất thận trọng và giữ khoảng cách với vợ. Chị T. dù muốn gần gũi chồng, nhưng vì xấu hổ, không dám chia sẻ với chồng nên đành phải "kiêng" trong ấm ức.
Việc kiêng "chuyện ấy" trong suốt thai kỳ là không cần thiết. (Ảnh minh họa)
Tin liên quan
Theo bác sĩ Nguyễn Hoài Bắc – Trung tâm Nam học BV Việt Đức thì những băn khoăn trên đây anh rất thường gặp ở các cặp vợ chồng chuẩn bị sinh con. Tuy nhiên theo bác sĩ thì đối với một người mang thai bình thường không có lý do gì về sức khỏe, việc kiêng cữ quan hệ tình dục trong suốt quá trình mang thai là không cần thiết, bởi tình dục sẽ tốt cho sức khỏe và thai nghén. Quan hệ tình dục khi mang thai cũng không gây nguy hiểm cho thai nhi bởi bào thai được bảo vệ rất tốt trong túi ối và tử cung của người mẹ. Cho tới nay chưa có bằng chứng nào chứng tỏ khi bố mẹ quan hệ sẽ khiến con sinh non hoặc sảy thai. Việc sảy thai hoặc sinh non là phụ thuộc vào sự phát triển bất thường của thai nhi. Ở 3 tháng đầu, sảy thai thường liên quan tới yếu tố rối loạn di truyền, bất đồng nhiễm sắc thể, bất đồng nhóm máu; ở 3 tháng giữa thì có thể do hormone của người mẹ; 3 tháng cuối có thể liên quan đến nhau thai, nước ối…
Cũng có một số trường hợp nên hạn chế quan hệ tình dục khi mang thai, đó là có tiền sử sinh non, sảy thai; một số có bất thường về nhau thai như bám thấp, rau tiền đạo, đang trong giai đoạn có chảy máu ở âm đạo, tử cung. Một số người có bất thường ở cổ tử cung, có thể bị hở, tạo điều kiện cho nhiễm trùng thai nghén...
Và nếu các cặp vợ chồng vẫn quá lo lắng về vấn đề này thì nên đến gặp bác sĩ để được khám và tư vấn để biết mình có nên quan hệ tình dục không, quan hệ như thế nào để an toàn… Như vậy sẽ tạo được một tâm lý thoải mái cho cả vợ lẫn chồng và sẽ có được sự "yêu" đạt được như mong muốn.
Yêu như thế nào để an toàn?
Khi mang thai, do sự thay đổi trong cơ thể nên người vợ cũng có thay đổi rất lớn trong vấn đề tình dục, do vậy cần cởi mở chia sẻ để người chồng có thể hiểu được những gì khiến mình thấy thoải mái và những gì không. Theo các chuyên gia thì việc quan hệ như thế nào là đủ và lựa chọn tư thế phù hợp cần dựa vào giai đoạn của thai kỳ. Trong quá trình mang thai, được chia làm 3 giai đoạn.
Giai đoạn 1 là 3 tháng đầu thai kỳ, đặc biệt là trong những tuần đầu mang thai, phụ nữ thường cảm thấy nhu cầu tình dục giảm do sợ ảnh hưởng xấu tới thai nhi hoặc do cảm thấy mệt mỏi, đặc biệt là đối với những người khó thụ thai hay đã từng sẩy thai cùng với sự thay đổi hormon nên người phụ nữ thường cảm thấy thờ ơ với tình dục. Do vậy, người chồng cần phải chia sẻ, thông cảm và không nên đòi hỏi khi vợ không muốn.
Giai đoạn 2 là 3 tháng tiếp theo của thai kỳ, khi tình trạng mệt mỏi do thai nghén đã qua đi thì người phụ nữ lại có xu hướng ham muốn tình dục tăng cao. Mặc dù giai đoạn này thai nhi bắt đầu lớn dần nhưng chưa quá to, do vậy việc quan hệ tình dục khiến các cặp vợ chồng dễ dàng đạt sự thỏa mãn. Tuy nhiên, cần phải nhẹ nhàng hơn và có tư thế phù hợp trong quan hệ.
Giai đoạn cuối cùng là lúc thai nhi lớn rất nhanh khiến cho người mẹ mệt mỏi, hay bị đau lưng và đau chân. Đây cũng là lúc người mẹ sẽ gặp khó khăn và không thoải mái trong quan hệ tình dục, mặc dù sự ham muốn có thể không bị suy giảm. Do đó người chồng cần phải có biện pháp phù hợp để vẫn đạt được khoái cảm mà không khiến vợ khó chịu và cũng không ảnh hưởng đến thai nhi. Giai đoạn này cần tránh tư thế khiến bụng và ngực của người mẹ phải chịu áp lực.
Khi làm "chuyện ấy", bố mẹ nên tìm tư thế thích hợp để không gây ảnh hưởng đến bé. (Ảnh minh họa)
Một số tư thế phù hợp khi quan hệ tình dục trong quá trình mang thai có thể kể đến là: tư thế "úp thìa", mặt đối mặt, người chồng nằm dưới…
Úp thìa: hai người nằm song song, lưng người vợ áp vào bụng của chồng.
Mặt đối mặt: người vợ nằm nghiêng sang một bên, đối mặt với chồng và đặt một chiếc gối sau lưng để giữ cho cơ thể luôn nghiêng. Tư thế này cho phép chồng bạn giữ phần lớn trọng lượng cơ thể không đè lên bụng người vợ.
Chồng nằm phía dưới: với tư thế này, bụng của người vợ sẽ không bị trọng lượng của chồng đè vào và người vợ còn có thể kiểm soát được độ sâu của việc xâm nhập.
Một số điểm cần lưu ý khi "yêu" trong quá trình mang thai
Trong quá trình mang thai, tuy không phải kiêng cữ chuyện gối chăn nhưng có một số điểm cần đặc biệt lưu ý, bởi nếu quan hệ không đúng cách sẽ xảy ra sự cố. Nếu bạn thấy xuất hiện những biểu hiện sau trong thời kỳ thai nghén, thì cần dừng ngay việc quan hệ tình dục và đi gặp ngay bác sĩ sản khoa và tình dục học: có dấu hiệu sinh sớm, ra huyết nơi âm đạo, bị chuột rút nhiều lần, cổ tử cung yếu (hở eo), biểu hiện triệu chứng của bệnh phụ khoa nào đó.
Trong suốt quá trình mang thai, khi quan hệ tình dục không nên kích thích vào ngực người vợ, vì có thể làm tăng tiết prolactin khiến tử cung co bóp nhiều hơn, dễ gây sẩy thai hoặc đẻ non. Trong tinh dịch chất prostaglandin làm tử cung co bóp mạnh, vì vậy trong những tháng cuối thai kỳ, người chồng nên sử dụng bao cao su.
Những trường hợp không nên quan hệ tình dục khi mang thai là khi các mẹ bầu có tiền sử sẩy thai, ra máu không rõ nguyên nhân, có dấu hiệu song thai hay nhiều hơn, có chẩn đoán là rau tiền đạo bán trung tâm. Những người có tiền sử sẩy thai hoặc có vấn đề về cổ tử cung thì nên tránh sinh hoạt tình dục trong những tháng đầu mang thai. Hoặc nếu nhau thai nằm quá thấp thì cũng không nên quan hệ tình dục. Và hãy đến gặp bác sĩ để có những lời khuyên phù hợp cho trường hợp của mình.
Chuyên mục Bà bầu – nơi cung cấp những thông tin, kiến thức hữu ích về thụ thai, mang bầu, những kinh nghiệm sinh nở cho phụ nữ trước, trong và sau khi có thai.
Mời độc giả có những thắc mắc, chia sẻ, tâm sự liên quan đến vấn đề này gửi thư về địa chỉ babau@eva.vn để được chia sẻ, tư vấn từ chuyên gia.  

7 hiểu lầm "kinh điển" về thuốc tránh thai và lý giải của bác sĩ

Nằm trong số những trường hợp này, mẹ tuyệt đối không được đặt vòng tránh thai
Thuốc tránh thai hàng ngày là một trong những biện pháp tránh thai được nhiều chị em sử dụng vì nó có hiệu quả lên đến 99% nếu sử dụng theo đúng nguyên tắc của thuốc. Có 2 loại thuốc tránh thai hàng ngày là loại chứa cả hai hormone estrogen và progestrogen (28 viên) và thuốc chỉ chứa estrogen (loại 21 viên).
Thuốc tránh thai hàng ngày ngừa thai bằng cách ngăn cản rụng trứng, làm mỏng niêm mạc tử cung để trứng đã thụ thai không làm tổ. Hơn nữa, thuốc còn làm đặc chất dịch ở cổ tử cung để chống tinh trùng đi qua và làm giảm sự di chuyển của tinh trùng trong ống dẫn trứng.
Với những bạn lần đầu sử dụng, họ đều thắc mắc không biết uống thuốc tránh thai hàng ngày có tác dụng phụ gì không. Câu trả lời là: Có. Khi bắt đầu sử dụng thuốc tránh thai hàng ngày, một số người có thể gặp những tác dụng phụ như:
1. Ra máu âm đạo
Một trong những tác dụng phụ của thuốc tránh thai hàng ngày nói riêng và các loại thuốc tránh thai nói chung là tình trạng ra máu âm đạo. Hiện tượng này thường xuất hiện trong vòng 3 tháng đầu sau khi dùng thuốc, đến vỉ thứ 3 hiện tượng này sẽ giảm đi rõ rệt. Nên đi khám bác sĩ nếu bị ra máu từ 5 ngày trở lên trong khi đang dùng thuốc hoặc bị ra máu nhiều trong 3 ngày trở lên.

nhung tac dung phu  cua thuoc tranh thai hang ngay chi em nao cung phai biet - 1
Một trong những tác dụng phụ của thuốc tránh thai hàng ngày nói riêng và các loại thuốc tránh thai nói chung là tình trạng ra máu âm đạo (Ảnh minh họa)
2. Buồn nôn
Đa số những người lần đầu tiên sử dụng thuốc tránh thai hàng ngày đều có cảm giác buồn nôn. Đây là kết quả của sự tăng estrogen vượt mức, dẫn tới kích ứng dạ dày gây buồn nôn. Thuốc tránh thai có chứa lượng lớn estrogen có nhiều khả năng gây buồn nôn hơn. Tuy nhiên các bạn không cần quá lo lắng bởi hiện tượng này thường sẽ biến mất trong vòng vài ngày.
3. Sưng đau ngực
Trong vài tuần đầu tiên uống thuốc tránh thai, bạn sẽ thấy ngực mình to và đau hơn bình thường. Hiện tượng sưng đau ngực thường hay gặp khi dùng các thuốc tránh thai dạng progesti. Tuy nhiên, cũng tương tự như hiện tượng chảy máu âm đạo, triệu chứng này cũng sẽ tự hết sau vài tuần khi cơ thể đã thích ứng với sự hiện diện của thuốc. Nếu thấy xuất hiện u cục hoặc đau kéo dài không hết thì cần đi khám bác sĩ.
4. Đau đầu
Một số loại thuốc tránh thai có thể dẫn đến sự suy giảm estrogen trong cơ thể. Mức độ estrogen thấp có thể dẫn đến nhức đầu hoặc làm trầm trọng thêm chứng đau nửa đầu. Một nghiên cứu năm 2005 được công bố trên tạp chí Sản Phụ Hoa Kỳ cho thấy, hầu hết phụ nữ bị đau đầu trong tháng đầu tiên uống thuốc tránh thai có chứa hỗn hợp estrogen-progestin. Tuy nhiên, những cơn đau đầu có xu hướng cải thiện hoặc biến mất khi sử dụng ở tháng tiếp theo. Để cải thiện tình trạng này, bạn nên đến gặp bác sĩ nhờ tư vấn.
5. Tăng nguy cơ nhiễm nấm âm đạo
Một trong những tác dụng phụ khác của thuốc tránh thai hàng ngày là làm bạn tăng nguy cơ bị nhiễm cấm âm đạo. Thuốc tránh thai làm thay đổi sự cân bằng của hormone trong cơ thể, đặc biệt là estrogen và progesterone. Mức estrogen cao hơn có thể gây nhiễm nấm men.
6. Tăng nguy cơ bị trầm cảm
Hàm lượng nội tiết tố có trong thuốc tránh thai có thể làm chất dẫn truyền thần kinh bị mất cân bằng, làm tình trạng trầm cảm càng thêm nghiêm trọng. Vì vậy khi bị chứng trầm cảm hoặc đã từng có tiền sử mắc bệnh trầm cảm chị em không nên sử dụng các bệnh pháp tránh thai bằng nội tiết tố như thuốc tránh thai khẩn cấp, thuốc tránh thai hàng ngày.

nhung tac dung phu cua thuoc tranh thai hang ngay chi em nao cung phai biet - 2
Hàm lượng nội tiết tố có trong thuốc tránh thai có thể làm chất dẫn truyền thần kinh bị mất cân bằng, làm tình trạng trầm cảm càng thêm nghiêm trọng (Ảnh minh họa)
7. Tăng cân
Thông thường các biện pháp tránh thai dạng uống có liều lượng estrogen cao dễ khiến người sử dụng bị tăng cân. Bởi lẽ mức độ estrogen cao sẽ kích thích sự thèm ăn và giữ nước trong cơ thể. Nó thậm chí có thể dẫn đến sự tích tụ chất béo ở khu vực vòng 1 và vòng 3. Do đó nếu bạn đang lo lắng về vấn đề cân nặng của mình thì hãy chọn một loại thuốc ít estrogen.
8. Không thấy kinh nguyệt
Đôi khi bạn cũng sẽ gặp phải hiện tượng mất kinh trong kỳ kinh nguyệt trong thời gian uống thuốc tránh thai. Điều này có thể xảy ra do chu kỳ kinh nguyệt bị chịu tác động đồng thời từ nhiều yếu tố bên trong (có thai) lẫn bên ngoài ngoài cơ thể như stress, ốm đau, đi lại. Lúc này, trước khi sử dụng tiếp thuốc, bạn nên mua que thử thai để xác định bản thân có mang thai hay. Nhưng nếu hiện tượng mất kinh, chậm kinh kéo dài thì bạn cần đi kiểm tra ngay.
Lưu ý khi sử dụng thuốc tránh thai
- Những người bị bệnh tim, bệnh gan, huyết áp cao, đái đường, người trên 35 tuổi hút thuốc lá, người đang sử dụng thuốc chữa lao và những người phát hiện có ung thư ở vú hoặc cơ quan sinh dục... thì không nên sử dụng thuốc tránh thai
- Bạn cần chú ý uống viên thuốc tránh thai hàng ngày đều đặn bởi nếu không tuân thủ đúng, quên uống thuốc cũng gây rối loạn kinh nguyệt. Để dễ nhớ, bạn nên uống vào một giờ nhất định.
- Khi dùng thuốc tránh thai hàng ngày, bạn nên tạo thói quen khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần.
- Bạn nên ngừng uống thuốc tránh thai 2 - 3 tháng trước khi quyết định thụ thai.

- Ung thư biểu mô tế bào thận phải được điều trị dứt điểm và sớm để tránh những biến chứng và hệ lụy không đáng có sau này. Có thể lựa chọn các phương pháp điều trị như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị… các phương pháp có thể sử dụng đơn lẻ hoặc kết hợp với nhau làm tăng hiệu quả điều trị.
Cảnh báo: biến chứng về thận ở bệnh nhân tiểu đường
Tăng độ nhạy phát hiện tế bào tiền ung thư CTC
Ung thư tế bào thận,Điều trị ung thư tế bào thận,Nguyên nhân gây bệnh ung thư,Triệu chứng bệnh ung thư,Điều trị bệnh ung thư
Phẫu thuật
Phẫu thuật cắt tất cả phần bị ung thư của thận. Điều này có thể bao gồm cả cắt bỏ bàng quang hay các mô xung quanh hay các hạt lymph
Các thuốc như alpha-interferon và interleukin đã làm giảm sự tăng trưởng của các khối u ung thư biểu mô tế bào thận , bao gồm cả một số khối u đã lan rộng. Thuốc hoạt động bằng cách ngăn chặn sự cung cấp máu cho khối u.
Liệu pháp tia xạ (xạ trị)
Xạ trị là dùng tia có năng lượng cao (tia X) để diệt tế bào ung thư hoặc làm teo tế bào. Xạ trị có thể từ bên ngoài cơ thể hoặc bên trong. Xạ trị có thể giúp hỗ trợ sau mổ bằng cách diệt số tế bào ung thư còn sót lại mà mắt trần không nhìn thấy trong khi mổ. Nếu khối u quá lớn hoặc ở vị trí khó mổ chúng ta có thể cho xạ trị trước cho khối u nhỏ lại để mổ dễ hơn.
Liệu pháp xạ trị không thường có tác dụng đối với ung thư biểu mô tế bào thận và, do đó, không thường được sử dụng. Các liệu pháp hooc-môn có thể giảm sự tăng trưởng của khối u ở một số trường hợp.
Truyền hóa chất (hóa trị)
Hóa trị là dùng thuốc bằng đường tiêm truyền hoặc uống để diệt tế bào ung thư. Người bệnh có thể tiêm hoặc uống thuốc để ngăn chặn sự phát triển của khối u. Các loại hóa chất điều trị ung thư biểu mô tế bào thận thường có tác dụng ngăn chặn sự cung cấp máu cho khối u nhằm cản trở sự phát triển của chúng.
Liệu pháp này có thể được sử dụng ở một số trường hợp nhưng phương pháp chữa trị này là không thể trừ đi tất cả ung thư được cắt bỏ bằng phẫu thuật.
Nhược điểm của hóa trị là những hóa chất diệt tế bào ung thư làm tổn hại đến các tế bào bình thường gây ra các tác dụng ngoại ý. Điều này phụ thuộc vào loại thuốc, liều lượng và thời gian dùng thuốc.
Ngoài ra, người bệnh có thể gặp phải 1 số tác dụng phụ như tiêu chảy, buồn nôn và ói mửa, chán ăn, rụng tóc, phù và nổi mẩn ở chân tay, đau họng, dễ nhiềm trùng, mệt mỏi…
Tiên lượng
Những khác nhau về kết quả tùy thuộc vào mức độ di căn. Tỉ lệ sống năm năm là khoảng 60-75% nếu khối u vẫn ở trong các giai đoạn sớm và chưa lan rộng ra bên ngoài thận khi được chuẩn đoán.
Nếu đã di căn tới các hạt lymph, thì tỉ lệ sống năm năm là từ 5-15%. Còn nếu đã lan rộng tới các nội tạng khác, tỉ lệ sống năm năm là dưới 5%.
Ngoài ra, bạn có thể tham khảo các biện pháp điều trị từ đông y, tây y hoặc kết hợp cả hai, cũng như tìm hiểu các bài thuốc có thể hỗ trợ điều trị bệnh ung thư biểu mô tế bào thận tốt mà không gây hệ quả như hóa trị, xạ trị.
Thái Thị Hậu
Nhiều người bị viêm đại tràng mạn tính phải sống trong cảnh suốt ngày thuốc thang mà vẫn bị đau đại tràng hành hạ, ăn uống kiêng khem khổ sở, không trị dứt điểm được.
Dùng thuốc kháng sinh nhiều - Bị nhờn thuốc
Đại tràng bị viêm loét nên khi điều trị người bệnh đi khám thường được các bác sĩ kê kháng sinh để điều trị các ổ viêm loét. Ở các các ổ viêm loét có rất nhiều vi khuẩn gây hại cư trú ở đó bắt buộc phải dùng kháng sinh để tiêu diệt chữa lành các ổ viêm loét.
Viêm đại tràng, viêm đại tràng mạn tính, men vi sinh nhật bản, men vi sinh Nhật Bản Bifina, men vi sinh Bifina
Viêm đại tràng có nhiều ổ viêm loét
Nhưng tai hại là kháng sinh vào đường ruột tiêu diệt các vi khuẩn gây hại để chữa lành vết loét, đồng thời cũng diệt luôn các vi khuẩn có lợi - hay còn gọi là lợi khuẩn, gây mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, đường ruột lúc này sẽ rất yếu, dễ bị tổn thương trở lại. Vì lợi khuẩn có vai trò vô cùng quan trọng, không những tiết enzym tiêu hóa thức ăn, mà lợi khuẩn cư trú trên hệ lông nhung trong lòng ruột tiết ra dịch nhầy trám lên toàn bộ thành ruột. Chính hệ lông nhung và dịch nhầy là lá chắn đắc lực bảo vệ đại tràng khỏi các tác nhân xâm hại.
Nhưng khi điều trị viêm đại tràng người bệnh thường lạm dụng thuốc kháng sinh nên lợi khuẩn bị tiêu diệt sạch, lông nhung cũng trơ trụi, lớp lá chắn bị bào mòn hết, nhưng lại không bù đắp lợi khuẩn, nên vết loét mới được chữa lành lên da non thành sẹo không có gì che chắn, ăn uống vào lại bị viêm loét trở lại.
Cứ như vậy lại dùng kháng sinh nhiều lần dẫn đến nhờn thuốc, kháng thuốc, không có tác dụng khiến bệnh ngày càng nặng, không thể thoát khỏi và có nguy cơ biến chứng thành ung thư đại tràng.
Dùng quá nhiều loại thuốc khiến đại tràng yếu dần
Khi dùng kháng sinh không khỏi, tâm lý người bệnh thường là "Có bệnh thì vái tứ phương", thấy ai mách thuốc nam, thuốc bắc gì là uống. Chúng ta cứ nghĩ các loại cây cỏ, thảo dược vô hại, uống bao nhiêu cũng được, nhưng thực chất các loại thuốc đông y cũng chứa các thành phần có tác dụng chữa viêm nhiễm, một số loại thuốc tây y cũng chiết xuất từ các loại thảo dược nên người bệnh lạm dụng dùng trong một thời gian dài hoặc với số lượng lớn sẽg rất nguy hiểm, vì lắng đọng một lượng lớn trong người gây phản tác dụng.
Các thành phần thảo dược uống lâu ngày cũng giống như các loại thuốc kháng sinh sẽ làm cho hệ tiêu hóa yếu dần, vì các thành phần trong thuốc cũng bào mòn lông nhung và cũng không có tác dụng tái tạo niêm mạc ruột và và bù đắp lợi khuẩn, tái tạo hệ lông nhung, nên người bệnh chỉ có cảm giác bệnh dịu bớt chứ không khỏi hẳn được.
Không biết được tầm quan trọng của lợi khuẩn
Viêm đại tràng, viêm đại tràng mạn tính, men vi sinh nhật bản, men vi sinh Nhật Bản Bifina, men vi sinh Bifina
Bổ sung lợi khuẩn Bifido giúp thoát khỏi viêm đại tràng
Lợi khuẩn đóng vai trò đặc biệt quan trọng với việc điều trị viêm đại tràng, nhưng người bệnh đại tràng lại thường coi nhẹ và không biết việc bổ sung lợi khuẩn chính là cách trị dứt điểm viêm đại tràng.
Vì lợi khuẩn tiết enzym tiêu hóa thức ăn, giúp các vết loét trong đại tràng mau lành, bảo vệ vết thương trong đại tràng mới lành bằng lớp màng chắn lợi khuẩn, ngăn chặn tình trạng bị tái đi tái lại.
Đồng thời, lợi khuẩn cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột giúp ổn định tiêu hóa. Khi đại tràng bị viêm nhiễm, điều trị kháng sinh nhiều lần sẽ không còn nhiều lợi khuẩn, lúc này đường ruột sẽ rất yếu.
Công nghệ độc đáo của Nhật Bản
Người Nhật Bản đã phát hiện, việc bổ sung lợi khuẩn Bifidobacterium (Bifido) là bí quyết giúp thoát hẳn viêm đại tràng, vì đây là loại lợi khuẩn chính - chiếm 99% tổng số lượng lợi khuẩn đường ruột và cư trú chủ yếu ở đại tràng. Nhưng lợi khuẩn Bifido lại rất nhạy cảm với môi trường axit dạ dày, nên chúng bị tiêu diệt gần như hoàn toàn khi đi qua dạ dày, đó chính là lý do ít có sản phẩm nào có thành phần lợi khuẩn Bifido.
Các nhà sáng chế của công ty Jintan Nhật Bản đã phát minh ra men vi sinh Bifina sử dụng công nghệ đột phá bảo vệ SMC (Seamless Micro Capsule) - bọc lợi khuẩn sống Bifido trong viên nang giọt nước hình cầu, có màng bọc kép kháng được axit của dạ dày. Chính vì vậy, men vi sinh Bifina đưa được lợi khuẩn sống đi qua axit dạ dày vào tận ruột non và đại tràng đạt tỷ lệ trên 90%.
Viêm đại tràng, viêm đại tràng mạn tính, men vi sinh nhật bản, men vi sinh Nhật Bản Bifina, men vi sinh Bifina
Men vi sinh đưa được 90% lợi khuẩn Bifido vào tận đại tràng
Ngoài ra, men vi sinh Bifina có công thức ưu việt 3 trong 1: 2,5 tỷ lợi khuẩn Bifidobacterium (Bifido), 1 tỷ lợi khuẩn Lactobacillus và chất xơ hòa tan Oligosaccharide. Giúp bổ sung cả chất xơ hòa tan là thức ăn cho lợi khuẩn, đồng thời giúp nhuận tràng, giúp bề mặt phân mềm mượt để đại tiện được dễ dàng.
Bổ sung đầy đủ lợi khuẩn Bifido từ men vi sinh Bifina Nhật Bản giúp viêm đại tràng chấm dứt hoàn toàn các triệu chứng khó chịu, tiêu hóa ổn định, bụng dạ nhẹ nhõm.
Thực phẩm bảo vệ sức khỏe - Men vi sinh Bifina Nhật Bản hỗ trợ điều trị viêm đại tràng, tăng cường chức năng tiêu hóa.
Thành phần: 2,5 tỷ lợi khuẩn Bifidobacterium (Bifido), 1 tỷ lợi khuẩn Lactobacillus và chất xơ hòa tan Oligosaccharide.
Viêm đại tràng, viêm đại tràng mạn tính, men vi sinh nhật bản, men vi sinh Nhật Bản Bifina, men vi sinh Bifina
Sản phẩm của Công ty Morishita Jintan Nhật Bản, phân phối độc quyền bởi Công ty TNHH Ecopath Việt Nam.
ĐC: Tầng 4, số 35A, ngõ 45, đường Trần Thái Tông, Cầu Giấy, Hà Nội
ĐT: 024 73 04 69 69 - 0936 404 366 - 0912 224 836
Website: http://bifina.vn/
SĐK: 9726/2016/ATTP-XNCB - SĐK: 01230/2016/XNQC-ATTP.
Sản phẩm không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.
Sản phẩm hiện có bán tại tất cả các hiệu thuốc lớn trên toàn quốc.
Nguyễn Vinh

Bé Hoàng bẩm sinh không có tai trái, mặc cảm nên luôn để tóc dài.


[Caption]
Tai bên trái của cậu bé bị khuyết mất vành tai. Ảnh: Bác sĩ cung cấp. 
Mẹ bé Hoàng cho biết, khi con chào đời, gia đình rất đỗi bàng hoàng vì cháu không có tai trái. Vợ chồng chị đã khóc rất nhiều, sợ con sẽ mặc cảm, tự ti với chiếc tai không hoàn thiện. Khi bé một tuổi, gia đình đưa con đến khám tại khoa Phẫu thuật Tạo hình - Hàm mặt - Thẩm mỹ, Bệnh viện Việt Đức. Trẻ bị khuyết vành tai bên trái nhưng vẫn có thể nghe và nói bình thường. Bác sĩ khuyên khi bé 6-7 tuổi thì đến khám lại để xử lý khuyết tật này. 
Cuối năm 2016, gia đình đưa bé Hoàng đến viện. Các bác sĩ đã phẫu thuật đặt khung sụn vành tai trái cho bé. Sáu tháng sau, trẻ được phẫu thuật lần hai để hoàn thiện tai.
be-trai-8-tuoi-o-ha-noi-duoc-tao-hinh-tai-moi-1
Các bác sĩ đã thực hiện hai ca phẫu thuật cách nhau sáu tháng để tạo hình tai mới cho trẻ. Ảnh: Bác sĩ cung cấp. 
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hà, Trưởng khoa Phẫu thuật Tạo hình - Hàm mặt - Thẩm mỹ, cho biết mất tai hoặc không có tai ảnh hưởng nặng nề tới thẩm mỹ và tâm lý bệnh nhân. Theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh có thể gặp là 1,5/2000-4000 trẻ sinh ra. Bệnh viện thường phẫu thuật tạo hình tai cho các bệnh nhân khuyết tai bẩm sinh hoặc do chấn thương, sử dụng sụn sườn tự thân hoặc nhân tạo, giúp bệnh nhân có tai mới gần giống với bình thường.
Theo thạc sĩ Trần Thị Thanh Huyền, trường hợp khuyết tai hoặc dị tật tai nhỏ bẩm sinh, có rất nhiều kỹ thuật tái tạo tai với nhiều bước khác nhau. Trước đây, tạo hình tai thường được tiến hành qua bốn thì phẫu thuật. Gần đây quy trình ngày càng được cải tiến, hiện chỉ tạo hình tai với hai thì phẫu thuật.
Độ tuổi thích hợp nhất để tạo hình tai bằng sụn sườn là 7-11 tuổi, do lồng ngực phát triển đủ lớn mới cung cấp đủ khối lượng sụn sườn cần thiết. Đến nay, khoa đã tiến hành được hơn 50 ca tạo hình tai với kết quả khả quan. Với nhiều máy móc phương tiện, chất liệu tạo hình mới, ngày càng nhiều trẻ được phẫu thuật sớm hơn, thậm chí không cần lấy sụn sườn, chỉ cần một lần phẫu thuật khi trẻ 4-6 tuổi.

Xem thêm>>

Xem thêm>>